Kết nối với chúng tôi
Truyền thông và pháp luật

KINH TẾ

Hỗ trợ kịp thời doanh nghiệp Việt Nam khi các nước tăng cường sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại

Phòng vệ thương mại là công cụ chính sách được Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho phép các nước thành viên sử dụng với mục đích bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước các hành vi cạnh tranh được coi là không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu như bán phá giá hay trợ cấp từ chính phủ; hoặc trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu tăng mạnh gây ảnh hưởng tới ngành sản xuất nội địa.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Chính vì vậy, cùng với sự phát triển của thương mại toàn cầu, các biện pháp phòng vệ thương mại cũng thường xuyên được các quốc gia trên thế giới sử dụng. Các nền kinh tế có xuất khẩu càng lớn càng dễ trở thành đối tượng của các biện pháp phòng vệ thương mại.

Với chủ trương đúng đắn của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, xuất khẩu đã trở thành một động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng bình quân 11,7% trong giai đoạn 2016-2020, đạt 281,5 tỷ USD năm 2020. Tuy nhiên, cùng với những kết quả đó, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng ngày càng phải đối mặt nhiều hơn với các vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại của nước ngoài. Tính đến hết tháng 7 năm 2021, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã là đối tượng của 207 vụ việc điều tra. Trong đó, số vụ việc điều tra từ năm 2011 đến nay là 160 vụ việc, chiếm tỷ lệ 77%.

Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, việc bị nước ngoài điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại sẽ có những tác động tiêu cực. Nếu hàng hóa xuất khẩu của doanh nghiệp bị áp dụng thuế phòng vệ thương mại ở mức cao sẽ làm giảm lợi thế cạnh tranh, dẫn đến mất một phần hoặc toàn bộ thị trường xuất khẩu. Để tránh bị áp thuế, doanh nghiệp phải bố trí thời gian và nguồn lực để xử lý, đáp ứng các yêu cầu của cơ quan điều tra nước ngoài. Điều này sẽ tạo thêm gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp.

Trong bối cảnh các nước tăng cường sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, Bộ Công Thương đã chủ động nghiên cứu, tham mưu để thể chế hóa công tác hỗ trợ doanh nghiệp xử lý các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của nước ngoài trong Luật Quản lý ngoại thương, đồng thời cụ thể hóa trong một số đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt như Đề án tái cơ cấu ngành công thương, Đề án tăng cường quản lý nhà nước về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và gian lận xuất xứ, Đề án xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại.

Thời gian qua, Bộ Công Thương đã phối hợp cùng với các bộ, ngành liên quan triển khai nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ kịp thời các doanh nghiệp Việt Nam khi các nước tăng cường sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo hộ sản xuất trong nước, cụ thể:

Thứ nhất, xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại. Bộ Công Thương đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 01/3/2020 phê duyệt Đề án Xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại (Đề án 316), thông qua  hệ thống cảnh báo sớm để theo dõi thông tin, cập nhật số liệu nhằm đưa ra cảnh báo kịp thời cho các doanh nghiệp xuất khẩu có giải pháp phòng ngừa vụ việc.

Thứ hai, chủ động  tiếp cận sớm với các doanh nghiệp trong những ngành có nguy cơ bị điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại để giúp các doanh nghiệp hiểu được các nguyên tắc, quy trình điều tra; các công việc doanh nghiệp cần thực hiện; các kịch bản có thể xảy ra đối với doanh nghiệp.

Thứ ba, đối với các vụ việc cụ thể, Bộ Công Thương đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan trực tiếp cung cấp các thông tin theo yêu cầu của cơ quan điều tra nước ngoài để cơ quan điều tra nước ngoài hiểu rõ về các chính sách, quy định của Việt Nam, tránh đưa ra những kết luận bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam dựa trên những cáo buộc thiếu khách quan và không chính xác. Bộ Công Thương cũng trực tiếp can thiệp, trao đổi với cơ quan điều tra phòng vệ thương mại của nước ngoài khi phát hiện trong hoạt động điều tra có điểm chưa phù hợp với các quy định của WTO. Nếu dấu hiệu vi phạm các quy định của WTO là rõ ràng và biện pháp phòng vệ thương mại được nước ngoài áp dụng gây bất lợi lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam, Bộ Công Thương sẽ có những tham mưu, đề xuất với Chính phủ để chính thức khiếu nại và đưa vấn đề ra giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.

Thứ tư, tăng cường tuyên truyền, phổ biến về quy định pháp luật Việt Nam, quốc tế về phòng vệ thương mại và các cam kết của các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã ký kết để các doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng nâng cao kiến thức, không bị động khi vụ việc xảy ra.

Thứ năm, thông qua hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Công Thương thường xuyên cung cấp thông tin cơ bản về nhu cầu sản phẩm, xu hướng thị trường để các doanh nghiệp nắm bắt thông tin, từ đó có kế hoạch đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu, tránh xuất khẩu quá tập trung vào một thị trường để giảm thiểu rủi ro bị điều tra, áp thuế.

Các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp của các cơ quan chức năng trong quá trình xử lý các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của nước ngoài đã đem lại những kết quả rất tích cực. Trong nhiều vụ việc, Việt Nam đã thành công trong việc chứng minh Chính phủ không trợ cấp, không can thiệp vào thị trường để tạo lợi thế bất bình đẳng cho doanh nghiệp xuất khẩu. Nhờ đó, các doanh nghiệp xuất khẩu không bị áp thuế phòng vệ thương mại hoặc bị áp thuế ở mức thấp, góp phần giữ vững và mở rộng thị trường xuất khẩu. Chẳng hạn như trong hầu hết các vụ việc Ca-na-đa điều tra trợ cấp đối với doanh nghiệp Việt Nam, cơ quan điều tra của Ca-na-đa đều có kết luận chung là doanh nghiệp Việt Nam không nhận trợ cấp hoặc nhận được trợ cấp với mức độ không đáng kể. Nhiều vụ việc Hoa Kỳ điều tra chống bán phá giá đối với các doanh nghiệp Việt Nam cũng có kết quả tích cực khi hầu hết các doanh nghiệp có tỷ trọng xuất khẩu lớn của Việt Nam đều không bị áp thuế chống bán phá giá (cá basa, tôm và gần đây nhất là mặt hàng lốp xe), giúp kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này được giữ vững và tăng trưởng. Không chỉ giải quyết ở cấp độ song phương, Việt Nam cũng đã tiến hành khiếu nại 5 biện pháp phòng vệ thương mại của các nước ra cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, trong đó có 4 vụ việc đã có phán quyết với kết quả tích cực cho Việt Nam. Nhờ các hoạt động hỗ trợ đang được triển khai, trung bình khoảng 2/3 số lượng các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của nước ngoài đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam không dẫn đến kết quả bất lợi đối với các doanh nghiệp.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, kim ngạch xuất khẩu gia tăng nhanh chóng, xu thế sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng gia tăng thì công tác hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam ứng phó với các biện pháp này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, phát triển các thị trường xuất khẩu. Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan thực hiện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp để giảm thiểu tác động của các biện pháp phòng vệ thương mại đến kết quả xuất khẩu. Đặc biệt, để các doanh nghiệp có thể chủ động hơn nữa trong việc xử lý các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của nước ngoài, công tác nâng cao năng lực phòng vệ thương mại cho cộng đồng doanh nghiệp sẽ được tăng cường thông qua các hoạt động tuyên truyền, đào tạo, phổ biến kiến thức pháp luật và kỹ năng xử lý phòng vệ thương mại cho các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Theo Bộ Công Thương

Click để bình luận

Bỏ qua

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

KINH TẾ

“ASEAN – Australia cần nỗ lực nối lại các dòng chảy thương mại, đầu tư bị tác động bởi COVID-19”

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh ASEAN – Australia cần nỗ lực nối lại các dòng chảy thương mại – đầu tư bị tác động bởi COVID-19, khuyến khích và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận trở lại thị trường của nhau, tham gia sâu rộng hơn vào chuỗi cung ứng khu vực.

Ngày 27/10, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam dự Hội nghị trực tuyến Cấp cao ASEAN – Australia thường niên lần thứ nhất. Lãnh đạo các nước ASEAN, Thủ tướng Australia Scott Morrison và Tổng Thư ký ASEAN cùng dự Hội nghị.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam dự Hội nghị.

Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng Scott Morrison khẳng định coi trọng quan hệ với ASEAN, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực và Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (AOIP), cam kết tham gia hiệu quả vào các cơ chế đối thoại và hợp tác do ASEAN chủ trì trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và thúc đẩy trật tự khu vực dựa trên luật lệ, đóng góp tích cực cho hòa bình, an ninh, ổn định và phát triển tại khu vực.

Thủ tướng Australia thông báo đến nay đã cung cấp khoảng 4 triệu liều vaccine phòng COVID-19 cho các nước trong khu vực và thêm 10 triệu liều nữa đến giữa năm 2022. Đồng thời, Thủ tướng Australia cũng cho biết nước này đang tích cực triển khai chương trình tiếp cận vaccine cho khu vực trị giá 523 triệu AUD, và gói 500 triệu AUD hỗ trợ thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng khu vực. Nhân dịp này, Thủ tướng Scott Morrison đề xuất sáng kiến Australia vì Tương lai ASEAN và công bố hỗ trợ thêm 124 triệu AUD hỗ trợ các dự án hợp tác ứng phó với các thách thức nảy sinh.

Thủ tướng Australia tái khẳng định cam kết ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN, thúc đẩy hòa bình, ổn định và an ninh khu vực trên cơ sở Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) và các nghĩa vụ quy định trong Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT).

Thủ tướng Australia cũng khẳng định ủng hộ lập trường của ASEAN, phát huy vai trò thúc đẩy đối thoại và tăng cường xây dựng lòng tin, thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố DOC, xây dựng Bộ Quy tắc COC hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Australia hoan nghênh và khẳng định ủng hộ vai trò của ASEAN thúc đẩy đối thoại, hòa giải, hỗ trợ Myanmar tìm giải pháp ổn định tình hình.

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh ASEAN – Australia cần nỗ lực nối lại các dòng chảy thương mại – đầu tư bị tác động bởi COVID-19.

Tại Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính bày tỏ ủng hộ nâng cấp quan hệ ASEAN – Australia lên thành đối tác chiến lược toàn diện.

Thủ tướng đánh giá cao sự trợ giúp của Australia dành cho khu vực và các nước ASEAN ứng phó dịch bệnh COVID-19, cảm ơn Australia đã hỗ trợ vaccine, vật tư y tế cho các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam. Thủ tướng đề nghị Australia đẩy mạnh hỗ trợ ASEAN nâng cao năng lực dự phòng, ứng phó chủ động trước các tình huống y tế khẩn cấp và dịch bệnh truyền nhiễm trong tương lai, thúc đẩy phục hồi và phát triển bền vững.

Thủ tướng nhấn mạnh hai bên cần nỗ lực nối lại các dòng chảy thương mại – đầu tư bị tác động bởi COVID-19, khuyến khích và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận trở lại thị trường của nhau, tham gia sâu rộng hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, thúc đẩy hợp tác hạ tầng số, hạ tầng chất lượng cao, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các nước ASEAN và giao lưu nhân dân giữa hai bên. Mong muốn Australia tiếp tục ủng hộ nỗ lực của ASEAN trong tiến trình xây dựng Cộng đồng, thúc đẩy thu hẹp khoảng cách phát triển, tăng cường kết nối các tiểu vùng trong ASEAN và khu vực, trong đó có tiểu vùng Mekong thông qua khuôn khổ Đối tác Mekong – Australia.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng bày tỏ mong muốn Australia tiếp tục ủng hộ nỗ lực của ASEAN gìn giữ hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn tự do hàng hải và hàng không trên Biển Đông, đề cao tuân thủ luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982, thông qua tiến trình ngoại giao, thúc đẩy kiềm chế, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình.

Kết thúc Hội nghị, Lãnh đạo ASEAN và Australia nhất trí nâng cấp quan hệ ASEAN –  Australia lên Đối tác Chiến lược Toàn diện.

Theo Gia Phát

Nguồn: https://congluan.vn/asean–australia-can-no-luc-noi-lai-cac-dong-chay-thuong-mai-dau-tu-bi-tac-dong-boi-covid-19-post163778.html

Đọc tiếp

KINH TẾ

Tổng cục Thuế hướng dẫn cụ thể cho các tổ chức cá nhân thuộc diện giảm thuế

Ngày 29/10, Tổng cục Thuế đã có công văn gửi một số Bộ có liên quan và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị phối hợp chỉ đạo một số công việc trọng tâm.

Các bộ, ngành cùng vào cuộc với cơ quan thuế

Theo đó, đối với các Bộ (Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Thông tin – Truyền thông, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Bộ Tài chính đề nghị các Bộ chỉ đạo các đơn vị, cơ quan chuyên môn triển khai các biện pháp để người tiêu dùng được thụ hưởng lợi ích từ việc giảm thuế giá trị gia tăng quy định tại khoản 3 Điều 1 và khoản 1 Điều 2 Nghị quyết.

Tổng cục Thuế hướng dẫn cụ thể cho các tổ chức cá nhân thuộc diện giảm thuế.

Trong đó, ngành thuế tập trung các giải pháp ổn định cung cầu hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng giảm thuế GTGT nhằm giữ bình ổn mặt bằng giá cả thị trường (giá chưa có thuế GTGT) từ ngày 01/11/2021 đến hết ngày 31/12/2021 cơ bản ổn định so với thời điểm trước ngày 01/11/2021.

Đối với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Tài chính đề nghị, khẩn trương chủ động rà soát Thông báo trong năm 2021 của cơ quan có thẩm quyền tại địa phương liên quan đến dịch Covid-19.

Một số nội dung dừng hoặc ngừng hoặc tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh đối với một hoặc nhiều hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trên địa bàn (bao gồm cả việc phong tỏa, cách ly xã hội một hoặc nhiều khu vực trên địa bàn) để ban hành Danh sách các địa bàn cấp huyện chịu tác động của dịch Covid-19 trong năm 2021 làm căn cứ thực hiện miễn thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng và các loại thuế khác phải nộp đối với hộ, cá nhân theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết.

Chỉ đạo các cơ quan liên quan trên địa bàn triển khai tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát để người tiêu dùng hiểu và được thụ hưởng lợi ích từ việc giảm thuế giá trị gia tăng quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết, trong đó tập trung các biện pháp ổn định cung cầu hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng giảm thuế GTGT nhằm giữ bình ổn mặt bằng giá cả thị trường (giá chưa có thuế GTGT) từ ngày 01/11/2021 đến hết ngày 31/12/2021 cơ bản ổn định so với thời điểm trước ngày 01/11/2021.

Hướng dẫn cụ thể cho các tổ chức cá nhân thuộc diện giảm thuế

Về phía Tổng cục Thuế cũng đã thực hiện phân công nhiệm vụ cho các vụ, đơn vị trong Tổng cục triển khai tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết và Nghị định nhằm tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế trong giai đoạn hiện nay và để người tiêu dùng được thụ hưởng lợi ích từ việc giảm thuế GTGT theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Nghị quyết.

Đối với các Cục Thuế, Tổng cục Thuế đã có công văn đề nghị Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết, Nghị định cần tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, tổ chức, người dân, đồng thời có trách nhiệm kiểm tra, giám sát về giá bán hàng hóa, dịch vụ (giá chưa có thuế GTGT) từ sau ngày 01/11/2021 của các doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn để đạt mục tiêu người tiêu dùng được thụ hưởng lợi ích từ việc giảm thuế GTGT theo quy định tại khoản 3 Điều 1 và khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết.

Trường hợp phát hiện các hiện tượng lợi dụng chính sách của Nhà nước để tăng giá bán của các hàng hóa, dịch vụ được giảm thuế GTGT, cần kịp thời tham mưu biện pháp xử lý với UBND tỉnh, thành phố. Tổng cục Thuế cũng đồng thời hướng dẫn các ví dụ cụ thể về việc lập hóa đơn đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng giảm thuế GTGT.

Trong thời gian tới, Tổng cục Thuế triển khai thực hiện hóa đơn điện tử theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Nghị định số 123/2020/NĐ-CP và Thông tư số 78/2021/TT-BTC tại 06 tỉnh, thành phố là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bình Định và Phú Thọ theo các Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Theo đó, Tổng cục Thuế cũng đồng thời triển khai hoạt động hỗ trợ trên hệ thống quản lý thuế về giảm thuế GTGT áp dụng đối với hoá đơn điện tử để các doanh nghiệp, tổ chức có thể thực hiện việc lập hóa đơn điện tử đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng giảm thuế GTGT theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết và Điều 3 Nghị định số 92/2021/NĐ-CP.

Theo Định Trần

Nguồn: https://congluan.vn/tong-cuc-thue-huong-dan-cu-the-cho-cac-to-chuc-ca-nhan-thuoc-dien-giam-thue-post164088.html

Đọc tiếp

KINH TẾ

Tập trung khôi phục, hỗ trợ thị trường lao động sau dịch COVID-19

Để thị trường lao động phục hồi sau dịch COVID-19, bên cạnh việc bảo đảm an sinh, chăm lo bằng các chế độ phúc lợi hợp lý, cần bảo đảm tiêm vắc-xin để người lao động yên tâm quay trở lại làm việc.

Thất nghiệp tăng cao nhất trong một thập kỷ qua

Số liệu công bố cho thấy, tính riêng quý III/2021 vừa qua, cả nước có hơn 28,2 triệu người từ 15 tuổi trở lên hứng chịu ảnh hưởng tiêu cực của dịch COVID-19 như mất việc làm, giãn việc, nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập…So với quý trước, số lao động chịu tác động xấu bởi dịch COVID-19 trong quý III tăng thêm 15,4 triệu người. Hầu hết những người bị ảnh hưởng nằm trong độ tuổi lao động, từ 24 – 54 tuổi, chiếm 73,3% tổng số lao động bị ảnh hưởng.

Một vấn đề đáng quan tâm nữa là trong quý III, số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động lên đến hơn 1,7 triệu người (tăng 532 nghìn người so với quý trước và tăng gần 445 nghìn người so với cùng kỳ năm trước). Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2021 là 3,98%, tăng 1,36 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,25 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu vực thành thị là 5,54%, tăng 2,18 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,60 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, quý II/2020 đã ghi nhận thu nhập bình quân của người lao động là mức thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây thì thu nhập bình quân tháng của lao động quý III/2021 chỉ là 5,2 triệu đồng, giảm 877 nghìn đồng so với quý trước và giảm 603 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Trong quý III/2021, hầu hết ngành kinh tế đều ghi nhận mức sụt giảm thu nhập bình quân của người lao động so với quý trước. Người lao động làm việc trong khu vực dịch vụ bị ảnh hưởng thu nhập nặng nề với mức bình quân tháng là 6,2 triệu đồng (giảm 1 triệu đồng so với quý trước).

Khi đại dịch diễn biến ngày càng phức tạp, các doanh nghiệp buộc phải sa thải hoặc để người lao động tạm dừng việc, một lượng lớn những người lao động này đã di chuyển ra khỏi khu vực thành thị, khu công nghiệp, khu chế xuất do sức ép về chi phí sinh hoạt, cũng như nhằm tránh các khu vực có  đông dân cư với nguy cơ lây nhiễm bệnh cao. Điều này sẽ gây thiếu hụt nguồn cung lao động cho các doanh nghiệp khi chúng ta từng bước mở lại hoạt động sản xuất, kinh doanh để không xảy ra đứt gãy chuỗi sản xuất, cung ứng của doanh nghiệp, đặc biệt là thị trường lao động. Do người lao động đang đứng trước hai cú sốc nặng nề do vừa trải qua giãn cách, bức xúc không có việc làm, thu nhập, đời sống khó khăn và tâm lý e ngại, sợ dịch bệnh không sẵn sàng quay trở lại nơi làm việc ngay sau khi dịch được kiểm soát sẽ kéo theo nguy cơ thiếu hụt lao động ở thành thị và các khu công nghiệp, khu chế xuất khi phục hồi sản xuất.

Theo các chuyên gia lao động, các kịch bản phục hồi của thị trường lao động hiện phải dựa vào tình hình kiểm soát dịch bệnh, đà phục hồi của nền kinh tế không chỉ trong nước mà còn phụ thuộc vào cả nhiều thị trường trên thế giới bởi hàng hóa xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn. Mặc dù chưa thể đưa ra những nhận định cụ thể về thị trường lao động thời gian tới nhưng vẫn có một số lĩnh vực gia tăng tuyển dụng.

Cần chuẩn bị phương án hỗ trợ người lao động quay lại làm việc

Chia sẻ với báo chí về giải pháp đặt ra hiện nay với doanh nghiệp, TS. Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội của Quốc hội Khóa 14 cho rằng, các doanh nghiệp cần chuẩn bị cơ sở vật chất và làm sạch môi trường, khử khuẩn và chuẩn bị điều kiện làm việc an toàn trong điều kiện chung sống an toàn với COVID-19, tức là kiểm soát dịch chứ không để dịch kiểm soát chúng ta, đảm bảo cho người lao động tiêm đủ liều vaccine. Đồng thời, doanh nghiệp phải có các chính sách thu hút người lao động như là: miễn hoặc giảm chi phí tuyển dụng, đào tạo tay nghề hoặc đào tạo lại cho người lao động, chính sách ưu đãi về tiền lương, tiền thưởng, tiền làm thêm giờ, chính sách hỗ trợ nhà ở, điện nước, giữ trẻ và phương tiện đi lại bảo đảm an toàn phòng dịch.

Đây là các biện pháp tích cực thu hút lao động nhưng doanh nghiệp phải tăng chi phí, giảm lợi nhuận, thậm chí còn chịu lỗ để bảo đảm duy trì sản xuất, khoan sức lao động chuẩn bị cho sự phuc hồi, ổn định và tăng tốc phát triển trong tương lai. Đây có thể như là giải pháp đi trước đón đầu, cho phát triển.

Để thị trường lao động phục hồi sau dịch COVID-19, TP. Hà Nội đã triển khai nhiều giải pháp, thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ phát triển thị trường lao động như hỗ trợ các đối tượng lao động có hoàn cảnh khó khăn; đẩy mạnh việc hỗ trợ vay vốn tạo việc làm cho người lao động thông qua Ngân hàng chính sách xã hội…

Thị trường lao động dần phục hồi sau dịch – Ảnh minh họa (Nguồn: Nhân dân).

Theo kết quả điều tra lao động việc làm quý III/2021, số người có việc làm tại Hà Nội giảm 5,3% so với quý trước và giảm 4,5% so với cùng kỳ năm 2020; tỷ lệ thất nghiệp đã tăng 0,3% so với quý trước. Tuy thị trường lao động không đứng trước nguy cơ “đứt gãy”, song hiện nay, nhiều đơn vị, doanh nghiệp tại Hà Nội vẫn thiếu người làm việc ở một số ngành, nghề, lĩnh vực như xây dựng, lắp đặt nội thất, cơ khí…

Để thị trường lao động phục hồi sau dịch COVID-19, thành phố Hà Nội đã đẩy mạnh việc hỗ trợ cho các đối tượng khó khăn theo Nghị quyết số 68/NQ-CP, Nghị quyết 116/NQ-CP của Chính phủ và chính sách hỗ trợ đặc thù của thành phố Hà Nội. Đến thời điểm này, tổng nguồn lực mà Thành phố hỗ trợ lên tới gần 2.000 tỷ đồng, với gần 3.500 đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19 được thụ hưởng.

Cùng với đó, TP. Hà Nội vẫn tiếp tục tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 để bảo đảm các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.

Thành phố cũng đã đẩy mạnh việc hỗ trợ vay vốn để tạo việc làm cho người lao động thông qua việc bổ sung 500 tỷ đồng qua Ngân hàng Chính sách xã hội để cho người lao động trên địa bàn Thành phố vay phục hồi sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tạo việc làm, khắc phục ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19.

Trong 9 tháng của năm 2021, Thành phố đã giải quyết việc làm cho 116,1 nghìn lao động, đạt 72,5% kế hoạch năm, trong đó, có 32,9 nghìn lao động được tạo việc làm từ nguồn vốn ngân sách Thành phố ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội cho đối tượng nghèo, đối tượng chính sách xã hội vay với tổng số tiền là 1,5 nghìn tỷ đồng.

Thông tin chia sẻ trước báo chí, ông Vũ Quang Thành, Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội nhận định, mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19, nhưng nhu cầu tuyển dụng lao động và tỷ lệ tham gia thị trường lao động tại Hà Nội sẽ có xu hướng tăng tỷ lệ thuận theo tình hình khôi phục của nền kinh tế. Nhiều người lao động có thể đi làm trở lại và tham gia vào chuỗi sản xuất, thay vì bị ngừng việc hoặc phải làm việc tại nhà, làm việc từ xa.

Nhằm bảo đảm hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh theo các Chỉ thị của Thành phố, đồng thời đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường lao động trong tình hình mới, Trung tâm đã triển khai các hoạt động chắp nối việc làm, tư vấn, giới thiệu việc làm, thu thập và cung cấp thông tin thị trường lao động theo hình thức gián tiếp và trực tuyến, tăng cường hoạt động hỗ trợ giải quyết chính sách bảo hiểm thất nghiệp.

Đồng thời, Trung tâm tiếp tục triển khai thu thập việc làm trống, cập nhật thông tin tuyển dụng của doanh nghiệp và nhu cầu tìm kiếm việc làm của người lao động vào cơ sở dữ liệu cung- cầu cũng như tổng hợp, phân tích dữ liệu để cung cấp thông tin thị trường lao động, tăng cường kết nối online cho doanh nghiệp và người lao động qua zalo, facebook…

Có thể thấy, để thị trường lao động dần hồi phục, bảo đảm việc làm, đời sống cho người lao động, tạo đà cho đơn vị, doanh nghiệp phát triển, các cơ quan chức năng đang triển khai nhiều giải pháp.

Ngoài nhóm lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp, thời gian qua, cả nước có hàng chục triệu lượt người lao động, người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 cũng được thụ hưởng các chính sách, nguồn lực hỗ trợ khác từ các gói hỗ trợ an sinh xã hội của Chính phủ. Các tỉnh, thành phố cũng chủ động huy động nhiều nguồn lực để trợ giúp cấp bách cho người lao động.

Chẳng hạn, tại Hà Nội, theo Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Bạch Liên Hương chia sẻ trước báo chí, chỉ tính riêng từ đầu tháng 7-2021 đến nay, toàn thành phố đã trích ngân sách và huy động các nguồn lực xã hội để hỗ trợ về nhiều mặt cho hơn 3 triệu lượt người dân, người lao động, giúp đa số người lao động yên tâm thực hiện “ở đâu, ở yên đó”.

Giải pháp lâu dài được các cơ quan chức năng triển khai là tăng cường kết nối cung – cầu về lao động; mở rộng, nâng cao chất lượng tuyển sinh, đào tạo nghề cho người lao động.

An Hiên (t/h)

Đọc tiếp
Advertisement

Bài viết gần đây

Xu hướng